Readings4Leading #3 – The Speed of Trust: The One Thing That Changes Everything – Stephen M R Covey

Chào mừng các bạn đã đến với góc nhỏ của Đức, một nhà giáo. Đây là góc review các sách về quản trị, dành cho những người đang thực hành, và nghiên cứu quản trị học. Mỗi tháng mình xin review 1~2 cuốn sách, hi vọng giúp ích được cho mọi người.

Chúc bạn có thời gian đọc sách vui vẻ.

The Speed of Trust: The One Thing That Changes Everything – Stephen M R Covey, 2006

Thể loại: Team Management

“Over time, I have come to this simple definition of leadership: Leadership is getting results in a way that inspires trust.”

Cuốn sách lý giải: Tại sao niềm tin lại là chìa khoá của leadership ngày nay? Niềm tin tột độ có những lợi ích gì (cả ở nhà và công sở)? Và quan trọng nhất, ta có thể làm gì để tin tưởng lẫn nhau?

Để khỏi băn khoăn rằng cuốn sách có cần có bạn không, hãy làm một bài test nhỏ: Bạn có muốn sếp mình tin tưởng giao phó? Bạn có muốn người khác tin rằng bạn sẽ làm tốt phần việc của mình? Bạn có muốn những người trong gia đình tin mình? Nếu những câu trả lời là có, thì bạn có thể thu hoạch được nhiều từ cuốn sách này.

The Speed of Trust: The One Thing That Changes Everything, xin dịch láo là “Niềm tin tột độ: Nhất diệp tri thu”. Niềm tin là một loại cảm giác mà ta có khi ghi nhận về con người, sự vật, hiện tượng, hay tổ chức. Vậy thế nào để có thể nhanh chóng, và thậm chí là nhanh chóng tin tưởng một cách tuyệt đối?

Kể từ sau biến cố ngày 11/9, các hãng hàng không yêu cầu khách hàng check-in sớm hơn. Và thế là, niềm tin của chúng ta gián tiếp bị suy giảm bởi sự gia tăng của hiểm hoạ khủng bố. Nó không chỉ đơn thuần là thời gian, mà còn là tiền bạc. Chi phí an ninh gia tăng, và hàng khách phải trả nhiều hơn, trong khi phải tiêu tốn nhiều thời gian hơn trước. Cuốn sách bàn về việc gây dựng niềm tin khi phải cân bằng những lợi ích như vậy, chứ không quá hoa mĩ và vạn năng như cái tên của nó.

Stephen Covey có lẽ là một cái tên không xa lạ, tác giả của cuốn “7 Thói quen của Người Thành đạt – The Seven Habits of Highly Effective People”. Thế nhưng đó là Stephen R. Covey, là người cha của Stephen M. R. Covey, tác giả cuốn sách này. Covey con là một doanh nhân và hoàn toàn độc lập với cha mình. Trong cuốn sách, ông trích dẫn nhiều ví dụ từ chính kinh nghiệm kinh doanh của mình, dưới những vai trò CEO, chuyên gia tư vấn, diễn giả, cố vấn, đủ để ta có niềm tin về thứ mà ông đang viết về niềm tin.

Phụ đề của cuốn sách “The one thing that changes everything”, có thể hiểu như Khổng Khâu, là “Nhất dĩ quán chi” (Lấy cái căn bản của đạo lý mà nhìn thấu vạn vật), hay lãng mạn một chút, là “Nhất diệp tri thu” (Nhìn một chiếc lá rụng, biết mùa thu đã tới). Thứ duy nhất, chiếc lá ở đây, là niềm tin. Liệu rằng đọc xong rồi, ta có thể ứng dụng những luận điểm, lời khuyên để đạt được mục tiêu nhanh hơn và tiêu tốn ít nguồn lực hơn bằng việc gây dựng, duy trì hay thậm trí khôi phục niềm tin? Liệu rằng cách tiếp cận của Covey con với “niềm tin” có đủ để thoả mãn ta?

Tác giả bắt đầu bằng việc đưa ra một cấu trúc chung của niềm tin mà ông gọi là “the five waves of trust” (năm cấp độ tin tưởng). Mức độ đầu tiên là self-trust, tự tin vào mình. Sau đó là relationship trust (tín nhiệm cá nhân), organizational trust (tín nhiệm trong tổ chức), market trust (tín nhiệm trong giới), và cuối cùng là societal trust (tín nhiệm trong xã hội). Trong cuốn sách này, phần lớn Covey đề cập đến hai cấp độ đầu tiên, về những trụ cột của sự tin lấy mình (self trust), và 13 hành vi mà tác giả tin rằng ta có thể áp dụng để tự cứu mình ra khỏi rắc rối trong mối quan hệ với những người xung quanh.

Dưới đây là phần tóm tắt sách. 

Covey cho rằng, cho dù là tự tin ở bản thân mình hay được người khác tin tưởng, thì sự tín nhiệm cũng bao gồm bốn điều cốt lõi. Những điều này lặp đi lặp lại xuyên suốt cuốn sách, và rất đáng để bạn thực hành. Thứ nhất là sự chính trực (integrity), giúp bạn đi thẳng vào mọi vấn đề một cách trung thực nhất. Thứ nhì là động cơ (intent/motives) cho lời nói, hành động của bạn. Thứ ba là năng lực (capability) để thực thi và đạt mục tiêu. Và cuối cùng là thành tựu (results/ track record). Những điều này cũng khá gần với phương pháp STAR mà nhân HR thường sử dụng, nhưng thiên nhiều hơn về phần chìm của tảng băng, thay vì sự mô tả tình huống (Situation), nhiệm vụ (Task), giải pháp (Action) và kết quả (Result).

Sự kết hợp của tính chính trực, động cơ với năng lực, thành tựu là một định nghĩa khá sát đáng, thú vị về sự tin tưởng.

Tác giả bàn luận sâu hơn về bốn trụ cột kể trên bằng việc đưa ra nhiều tình huống trong công việc và đời sống gia đình. Cuốn sách cũng bao gồm một bảng hỏi ngắn nhưng khá thử thách, giúp bạn ước lượng được mức độ tín nhiệm của mình thực sự tốt tới đâu, cũng như xác định những phần việc bạn cần làm để tăng cường tín nhiệm, dựa trên tính cách và phẩm chất của bạn.

Cuốn sách cũng có nhiều mẹo nhỏ có thể thực hành ngay mà bạn khó có thể chối từ. Ví dụ, tác giả hỏi rằng: “Làm sao mà bạn có thể mong người khác tin mình, khi mà chính bạn còn không giữ cam kết với bản thân mình?”. Ngay từ việc rất nhỏ là thức dậy mỗi sáng khi chuông báo thức vang lên. Nếu bạn lặp đi lặp lại việc trì trệ bản thân, thì chính bản sẽ cảm thấy mình đang đổ đốn, và một khởi đầu cho quá trình thất tín chính mình bắt đầu.

Vậy, ít nhất bạn đã ý thức được rằng mình cần phải xây dựng bốn trụ cột kể trên trước khi bắt đầu kì vọng người khác đặt niềm tin ở mình. Thế nhưng, làm thế nào để có thể bước sang giai đoạn thứ hai, đón nhận sự tin tưởng, và gây dựng niềm tin ở những người khác?

Theo tác giả, câu trả lời nằm ở 13 hành vi thể hiện sự thống nhất, phản ánh đúng bản chất của bốn trụ cột của sự tín nhiệm, và khuyến khích người khác tin ở bạn. Tác giả lần lượt điểm qua từng loại hành vi với những minh hoạ từ kinh nghiệm của bản thân.

Nhóm đầu tiên bao gồm năm hành vi liên quan tới tính cách của bạn, rất gần với hai trụ cột đầu tiên (tính chính trực, và động cơ rõ ràng). Năm hành vi đó là: Nói thẳng vào vấn đề (talk straight); Thể hiện sự tôn trọng (demonstrate respect); Tạo ra sự minh bạch (create transparency); Sửa chữa những sai lầm (right wrongs), và Thể hiện sự trung thành (show loyalty). Có lẽ bạn đã thực hành và không lạ lẫm gì với những điều kể trên, nhưng việc điểm mặt gọi tên chúng ra cũng giúp ta ý thức được nhiều về việc gây dựng sự tín nhiệm. Việc gọi tên chúng ra, cũng giúp chúng ta liên tục thực hành, và liên tục tái nhìn nhận về quá trình rèn luyện của bản thân. Ví dụ, xin lỗi để sửa sai không chỉ đơn thuần là để nắm cơ hội thêm một lần nữa, mà còn là thể hiện sự tôn trọng.

Covey cũng nhấn mạnh rằng, việc thất bại/ lười biếng khi thực hành những hành vi này là cách nhanh nhất để huỷ diệt niềm tin. Quả đúng là như thế! Giống như câu chuyện của đứa bé và cây kẹo, những gì bạn làm để gây dựng niềm tin có thể đem lại sự huỷ hoại lớn hơn khi chúng bỗng nhiên vắng mặt. Ví dụ dễ thấy, là sự im lặng theo kiểu lẩn tránh của các công ty khi đối diện với scandal/ nguy cơ scandal.

Nhóm kế tiếp bao gồm năm hành vi mà tác giả cho rằng gần hơn với giá trị cốt lõi của sự tín nhiệm: Tạo ra thành quả (deliver results), Cải tiến liên tục (get better), Đối diện với sự thật (confront reality), Cụ thể hoá các kỳ vọng (clarify expectations), và Thực thi trách nhiệm (practive accountability).  

Tất nhiên, những hành vi trên đều tốt, và đều quen thuộc cả. Chúng có thể phân tách với nhau, hoặc phản ánh lẫn nhau. Trong nhóm đầu, ta thấy có sự mập mờ giữa Thể hiện sự tôn trọng, và Thể hiện sự trung thành. Với sự trợ giúp của nhóm thứ hai này, ta có thể xoá đi sự mập mờ đó, khi việc thực thi và tạo ra các thành quả giúp cho cả bạn và người nhận có cơ hội để đánh giá tiến trình, với những kỳ vọng rõ ràng.

Vậy đối với chính cuốn sách này, tác giả có nói tường minh hay vẫn lẩn khuất, lòng vòng để gia tăng số lượng của các hành vi? Tất nhiên, phần nào Covey cũng có lòng vòng và vì thế, sẽ mất đi một số lượng độc giả nhất định. Nhưng tựu lại, ông cũng không bôi vẽ gì để sách thêm dài cả. Covey đã khá cẩn trọng khi gọt tỉa những tiêu đề, những hành vi, và đảm bảo rằng mỗi phần của cuốn sách phục vụ đúng nhiệm vụ mà nó được đặt tên. Có lẽ, đây cũng là thói quen của một diễn giả, một nhà tư vấn.

Những cuốn sách dạng này chỉ có ích khi ta dễ dàng ghi nhớ và thực hành hàng ngày mà không phải lật qua ngó lại chúng. Hẳn rằng, càng nhiều điểm cần phải nhớ thì sẽ càng khó để mà vận dụng. Thế nhưng cốt lõi của vấn đề lại chỉ có một thứ – lòng tin. Đó cũng chính là điểm mà cuốn sách này đã làm được.

Như đã lướt qua mười hành vi mà ta có thể dùng để xây dựng niềm tin, chúng ta sẽ đến với ba hành vi còn lại:

  • Nghe trước đã (listen first). Không cần phải nói nhiều thêm về việc này, cả hai từ đều đã đủ quan trọng và rõ ràng: listen và first. Lắng nghe luôn là một hành vi đầu tư tuyệt vời, và thời điểm để đầu tư ổn nhất, là từ ngay khi khởi sự.
  • Giữ cam kết (keep commitments), nghe cũng na ná như việc Tạo ra thành quả (deliver results).
  • Và cuối cùng là Tiếp nối sự tín nhiệm (extend trust).

Vâng, lại tiếp tục là những thứ na ná như nhau. Tuy nhiên, càng đọc thì bạn sẽ càng nhận ra nhiều hơn ý nghĩa của chúng. Tác giả trích dẫn nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng chúng ta thường không tin tưởng thủ lĩnh, và một trong những lý do của việc đó, là vì lãnh đạo cũng chả tin ở chúng ta. Khi ta tin người khác theo kiểu “mày tin thế quái nào được”, thì họ cũng sẽ hành động như vậy. Mặc khác, khi ta tin tưởng ở họ, họ cũng sẽ trở nên đáng tin hơn.

Tác giả cũng trích dẫn một số ví dụ khi các công ty phải đối mặt với tỉ lệ nghỉ việc cao, nhân viên ngày càng vắng bóng bởi căng thẳng quá độ. Giới quản trị quyết định tin tưởng nhân viên của mình nhiều hơn, để cho họ làm việc ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Phương châm lao động này được gọi là ROWE (Result only work environment), được giới thiệu bởi Jody Thompson và Cali Ressler lần đầu tại BEST BUY vào năm 2003. Sau đó, nó nhanh chóng lan toả ra nhiều ông lớn khác. Thế nhưng, cùng áp dụng ROWE mà Google thì thăng hoa, còn Yahoo thì đã lụi tàn. Sự khác biệt không nằm ở kỹ thuật thực hiện, mà chính là ở cốt lõi của việc gây dựng niềm tin.

Sau khi đã bàn về 13 hành vi gây dựng tín nhiệm, cuốn sách đặt sự tín nhiệm vào bối cảnh rộng hơn: Tín nhiệm trong tổ chức, Tín nhiệm trong giới, và Tín nhiệm trong xã hội.

Tín nhiệm trong tổ chức là một phạm trù hết sức lôi cuốn. Không khó để có thể xây dựng sự tín nhiệm từ những con người truyền lửa, nhưng cũng rất dễ để sự tín nhiệm đó bị giam cầm bởi thể chế của tổ chức. Sự kìm kẹp, quan liêu là kẻ thù đáng sợ của lòng tin, và ức chế sự sáng tạo.

Tác giả bàn luận một vài cái giá phải trả cho sự tín nhiệm thấp, cũng như những cái được khi một hệ thống được thiết kế tốt để tạo dụng và tăng trưởng các giá trị niềm tin. Đây là một phần hại não và khá khó chịu đối với những ai đang cầm trịch sơ đồ, cơ chế hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên nếu thông được phần này, thì sẽ thấy và và làm được nhiều điểm lợi về cả thời gian và tiền bạc.

Cấp độ tiếp theo là sự Tín nhiệm trong giới (market trust), hay có thể hiểu nôm na là brand của của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực hoạt động. Đây cũng là phần dễ hình dung nhất về lợi ích tài chính của niềm tin, khi nó phải được xây dựng từ nền móng, và phải được công nhận rộng rãi. Tất nhiên, sự tín nhiệm này cũng có thể tác động ngược lại và làm cho các cấp bậc tín nhiệm khác được củng cố, từ Self-trust cho đến Organization trust. Tác giả không đi sâu vào phần này, nhưng nếu ta ướm thử bốn trụ cột và 13 hành vi mà Covey đã nêu cho cá nhân vào cấp độ tổ chức, ta sẽ hình dung được việc gây dựng niềm tin trong giới gian lao đến nhường nào.

Phần cuối của cuốn sách nói về Tín nhiệm trong xã hội, bao gồm nhiều ví dụ về các cá nhân, tổ chức và những dự án từ thiện, hoặc dự án cộng đồng. Khác với những phần trước, phần này không bàn xem chúng ta phải làm gì với loại tín nhiệm này, hay vào thế nào để xây dựng sự Tín nhiệm trong xã hội. Tuy nhiên, những ví dụ rất thực tế và là gợi ý tốt để bạn có thể bắt tay vào thực hiện ngay.

Cuối cùng, tác giả đưa ra khái niệm “Smart trust”, một ranh giới hết sức mong manh giữa hai vực thẳm: Bất tín (distrust) và Cả tin (blind trust). Covey dặn dò chúng ta nên phân tích tình huống chuẩn xác khi tin tưởng người khác, xem tại sao ta lại tin ở họ, bởi đa phần, chúng ta thường có xu hướng tin người một cách khá dễ dãi. Hay đúng hơn, “Smart trust” là một dạng ứng dụng của quản trị rủi ro. Nó khiến ta phải cân nhắc giữa rủi ro và cơ hội. Covey tóm tắt lại diễn giải của mình bằng câu nói của Thomas J. Waston, nhà sáng lập IBM: “To increase your success rate, double your failure rate.” Hay như các cụ nhà ta vẫn thường nói: “Liều ăn nhiều”.

Cuốn sách kết thúc bằng một số hướng dẫn đơn giản để bạn có thể lấy lại niềm tin khi đã bị đánh mất, cả khi bạn bớt tin người khác, hay khi họ bớt tin ở bạn. Cuốn sách dài khoảng hơn 300 trang,

Cuốn sách dài khoảng hơn 300 trang nhưng nội dung khá chắc chắn và thực tế nên không khó đọc. Các vấn đề được bàn luận có tính ứng dụng cao, và đều được minh hoạ với ví dụ trực quan từ công sở hoặc đời sống, nên không hạn chế đối tượng độc giả.

#MBReviews #Readings4Leading #18cuonsach1nam

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *